Hàng hoá công cộng là thứ mà một người dùng không làm người khác bớt đi, và cũng rất khó ngăn ai đó dùng, như ánh sáng đèn đường, con đê chống lũ hay một bản tin dự báo bão. Vì ai cũng hưởng được dù không góp tiền, mỗi người đều có lý do để chờ người khác trả trước, và vì vậy nếu chỉ để người mua người bán tự lo, những thứ này thường được làm ra quá ít.
Chào bạn, đây là Nhà Kinh Tế. Nhiều con hẻm từng có những cuộc họp tổ dân phố để góp tiền làm đèn, đổ bê tông. Và hầu như hẻm nào cũng có vài nhà không góp mà vẫn đi trên con đường đó. Hôm nay mình nói về chuyện rất đời thường này bằng ngôn ngữ kinh tế học.
Thứ gì được gọi là hàng hoá công cộng?
Nhà kinh tế dùng hai câu hỏi để phân loại. Câu thứ nhất: một người dùng có làm người khác bớt đi không? Bát phở bạn ăn thì người khác không ăn được nữa. Còn ánh sáng đèn đường bạn đi qua thì người sau vẫn có nguyên.
Câu thứ hai: có dễ ngăn người không trả tiền dùng không? Rạp phim có cửa soát vé, nên ngăn được. Con đê chống lũ thì bảo vệ cả làng, không thể chỉ bảo vệ nhà nào đã góp tiền.
Thứ gì trả lời không cho cả hai câu, tức là không ai bị bớt và không ai bị ngăn, được gọi là hàng hoá công cộng thuần tuý. Quốc phòng, đèn biển, dự báo thời tiết, đê điều, chiến dịch phòng dịch là những ví dụ hay được nhắc.
Hầu hết thứ chúng ta mua bán hằng ngày thì ngược lại: dùng là hết, và không trả tiền thì không có. Đó là lý do chợ làm tốt với chúng.
Người đi nhờ là ai?
Giả sử con hẻm có hai mươi hộ, cần góp tiền lắp năm bóng đèn. Mỗi nhà đều muốn hẻm sáng. Nhưng mỗi nhà cũng biết: nếu mười chín nhà kia góp, đèn vẫn được lắp, và nhà mình vẫn được sáng dù không góp.
Người đi nhờ là người hưởng lợi mà không đóng góp. Vấn đề là khi ai cũng nghĩ như vậy, không ai góp, và đèn không bao giờ được lắp, dù tất cả đều muốn.
Nhà kinh tế gọi đây là một thất bại thị trường. Không có ai làm sai, không có ai xấu, chỉ là cách sắp xếp mua bán thông thường không đủ để làm ra thứ mà mọi người đều muốn.
Trong thực tế, nhiều người vẫn góp vì lòng tự trọng, vì sợ hàng xóm đánh giá, vì tình làng nghĩa xóm. Những sức ép xã hội đó chính là một cách giải bài toán người đi nhờ.
Làng xóm đã giải bài toán này thế nào?
Ở quy mô nhỏ, cộng đồng có những công cụ rất hiệu quả. Mọi người biết nhau, biết ai góp ai không. Tên người góp được đọc trong cuộc họp, ghi lên bảng. Không góp thì ngại khi gặp nhau ở đám giỗ.
Làng xã Việt Nam xưa có những lệ làng về đóng góp sửa đình, đắp đê, nạo vét mương. Ai không góp công góp của có thể bị phạt hoặc mất một số quyền lợi trong làng.
Nhà kinh tế học Elinor Ostrom đã nghiên cứu rất nhiều cộng đồng như vậy trên thế giới và chỉ ra rằng người dân có thể tự quản lý tài sản chung khá tốt, nếu có luật chơi rõ ràng và giám sát lẫn nhau.
Nhưng cách này khó áp dụng khi cộng đồng lớn lên. Ở một thành phố hàng triệu người, không ai biết ai, và sức ép xã hội yếu đi rất nhiều.
Vì sao nhà nước thường đứng ra làm?
Khi cộng đồng quá lớn để tự góp, nhà nước giải bài toán bằng thuế. Mọi người đều phải đóng góp theo luật, rồi nhà nước dùng tiền đó làm đèn đường, đê điều, trạm dự báo bão.
Thuế về bản chất là một cách bắt buộc mọi người góp tiền cho thứ ai cũng hưởng. Nó không dễ chịu, nhưng nó giải được bài toán người đi nhờ mà sức ép xã hội không giải được ở quy mô lớn.
Tuy vậy, nhà nước làm thì có câu hỏi khác: làm bao nhiêu là đủ, ưu tiên chỗ nào, chi phí có hợp lý không. Không có giá thị trường để báo hiệu, nên quyết định dựa vào quy trình, ý kiến người dân và sự giám sát.
Đó là lý do minh bạch ngân sách và tiếng nói của người dân quan trọng với hàng hoá công cộng hơn bất cứ thứ gì khác.
Những thứ nằm giữa: không thuần công cộng mà cũng không thuần tư
Nhiều thứ ở giữa. Một con đường cao tốc có trạm thu phí thì ngăn được người không trả, nhưng lúc vắng xe thì người này dùng không làm người khác bớt. Một công viên thì ai cũng vào được, nhưng đông quá thì chật chội.
Có thứ dùng thì hết nhưng khó ngăn người dùng, như cá ngoài biển hay nước ngầm. Đó là tài nguyên chung, dễ bị khai thác quá mức vì ai cũng nghĩ mình không lấy thì người khác lấy.
Công nghệ cũng làm ranh giới thay đổi. Truyền hình xưa phát sóng ai cũng xem được, nay có thể khoá bằng mã. Một thứ trước là công cộng có thể thành thứ bán được.
Lần tới khi đi qua con hẻm sáng đèn về đêm, bạn có thể tự hỏi: ai đã trả cho thứ ánh sáng này, và có ai đang đi nhờ mà không biết không?
Câu hỏi thường gặp
Giáo dục và y tế có phải là hàng hoá công cộng không?
Theo định nghĩa chặt của kinh tế học thì không hẳn, vì một chỗ học hay một lần khám có giới hạn và có thể thu tiền. Nhưng chúng có nhiều lợi ích lan toả cho xã hội, nên nhà nước thường hỗ trợ.
Vì sao có người không góp tiền làm đường hẻm?
Có thể vì khó khăn thật, vì không thấy mình hưởng nhiều, hoặc vì tính toán đi nhờ. Cách làm minh bạch, chia mức góp hợp lý và có cơ chế hỗ trợ nhà khó khăn thường làm nhiều người góp hơn.
Tư nhân có bao giờ làm hàng hoá công cộng không?
Có, khi họ tìm được cách thu lợi gián tiếp. Truyền hình miễn phí sống nhờ quảng cáo, phần mềm mã nguồn mở có người đóng góp vì danh tiếng hay vì chính họ cần dùng.
Hàng hoá công cộng và tài nguyên chung khác nhau ra sao?
Hàng hoá công cộng dùng không làm người khác bớt đi. Tài nguyên chung như bãi cá thì dùng là hết, chỉ là khó ngăn người dùng. Tài nguyên chung dễ bị khai thác cạn, còn hàng hoá công cộng dễ bị làm ra quá ít.
Vì sao dự báo thời tiết thường do nhà nước làm?
Vì một bản tin dự báo bão phát ra thì ai cũng nghe được, khó thu tiền từng người, trong khi lợi ích cho xã hội rất lớn. Đây là ví dụ điển hình của hàng hoá công cộng.