Nợ công giống nợ của một gia đình ở chỗ vay thì phải trả lãi, và vay quá sức trả thì sẽ gặp rắc rối. Nhưng nó khác ở ba điểm lớn: nhà nước không có tuổi nghỉ hưu nên có thể vay mới trả cũ trong thời gian rất dài, thu nhập của nhà nước lớn lên cùng cả nền kinh tế, và một phần nợ là vay của chính người dân và doanh nghiệp trong nước.
Chào bạn, đây là Nhà Kinh Tế. Người ta hay nói nhà nước cũng như một gia đình, phải biết liệu cơm gắp mắm. Câu đó có phần đúng, nhưng nếu áp nguyên xi thì sẽ hiểu sai khá nhiều. Hôm nay mình so hai thứ cạnh nhau. Mình không bình luận chính sách nợ của nước nào, chỉ nói cơ chế.
Những chỗ nợ công giống nợ gia đình
Vay thì phải trả lãi. Một gia đình vay để mua nhà phải dành một phần thu nhập trả lãi mỗi tháng. Nhà nước vay thì phải dành một phần ngân sách trả lãi, và phần đó không còn để làm trường, làm đường.
Người cho vay đánh giá khả năng trả nợ. Gia đình nợ nhiều thì ngân hàng đòi lãi cao hơn hoặc không cho vay nữa. Nhà nước nợ nhiều so với khả năng thì người mua trái phiếu đòi lãi cao hơn.
Vay để làm gì quan trọng. Vay để mua máy làm ra tiền khác với vay để tiêu xài. Nhà nước vay để xây hạ tầng giúp kinh tế lớn lên khác với vay để trả lương bộ máy thường xuyên.
Và cuối cùng, vay quá sức đều dẫn tới khủng hoảng. Lịch sử thế giới có nhiều nước từng không trả được nợ, phải tái cơ cấu nợ trong đau đớn.
Khác biệt thứ nhất: nhà nước không nghỉ hưu
Một gia đình phải trả hết nợ trước khi về già, vì thu nhập sẽ giảm. Nhà nước thì tồn tại liên tục qua nhiều thế hệ. Khi một khoản nợ tới hạn, nhà nước có thể vay khoản mới để trả, gọi là đảo nợ.
Nhiều nước phát triển chưa bao giờ trả hết nợ công trong lịch sử hiện đại của họ, và cũng không cần phải trả hết. Điều quan trọng là họ luôn trả đúng hạn và người cho vay luôn sẵn lòng cho vay tiếp.
Điều này không có nghĩa là nợ bao nhiêu cũng được. Nếu người cho vay mất lòng tin, đảo nợ trở nên đắt đỏ hoặc không thể, và khủng hoảng đến rất nhanh.
Vì vậy câu hỏi về nợ công không phải là có trả hết được không, mà là có duy trì được không.
Khác biệt thứ hai: thu nhập nhà nước lớn theo nền kinh tế
Thu nhập của nhà nước là thuế, mà thuế tăng khi nền kinh tế lớn lên. Vì vậy người ta không đo nợ công bằng con số tuyệt đối, mà đo so với tổng sản phẩm trong nước, giống như đo nợ của gia đình so với thu nhập.
Nếu nợ tăng chậm hơn nền kinh tế, tỷ lệ nợ trên quy mô kinh tế giảm dần, dù số tiền nợ vẫn tăng. Một gia đình có thu nhập tăng đều mỗi năm cũng thấy khoản nợ cũ nhẹ dần theo thời gian.
Nhà kinh tế hay so hai thứ: lãi suất trên nợ và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Khi tăng trưởng cao hơn lãi suất, nợ dễ duy trì hơn. Khi lãi suất cao hơn tăng trưởng, nợ có xu hướng phình ra nếu không có thặng dư ngân sách.
Không có một ngưỡng nợ an toàn chung cho mọi nước. Nó tuỳ lãi suất, tăng trưởng, ai là người cho vay và vay bằng đồng tiền gì.
Khác biệt thứ ba: vay của ai và bằng đồng tiền gì
Khi một gia đình vay, tiền đi ra khỏi nhà. Khi nhà nước vay trong nước, ví dụ bán trái phiếu cho ngân hàng, quỹ bảo hiểm, người dân, thì tiền lãi trả ra vẫn ở trong nước, vào túi những người cho vay đó.
Nợ trong nước bằng đồng nội tệ thường an toàn hơn nợ nước ngoài bằng ngoại tệ. Nợ ngoại tệ thì khi đồng nội tệ mất giá, gánh nợ quy ra nội tệ nặng thêm, và nhà nước không thể in ngoại tệ để trả.
Nhiều cuộc khủng hoảng nợ trên thế giới bắt đầu từ nợ ngoại tệ cộng với một cú sốc tỷ giá.
Điều này không có nghĩa là nợ trong nước vô hại. Nhà nước vay nhiều trong nước có thể đẩy lãi suất lên, làm doanh nghiệp tư nhân khó vay hơn. Nhà kinh tế gọi đó là hiệu ứng chèn lấn.
Khi nào nợ công đáng lo?
Một vài dấu hiệu nhà kinh tế hay theo dõi: tỷ lệ nợ so với quy mô kinh tế tăng nhanh liên tục, phần ngân sách dành cho trả lãi ngày càng lớn, tỷ trọng nợ ngoại tệ và nợ ngắn hạn cao, và lãi suất người cho vay đòi tăng vọt.
Ngược lại, vay để đầu tư vào những dự án giúp kinh tế tăng trưởng, với chi phí hợp lý và quản lý minh bạch, có thể là lựa chọn tốt, giống gia đình vay để mở cửa hàng sinh lời.
Việt Nam có quy định về quản lý nợ công và các giới hạn an toàn được Quốc hội phê duyệt theo từng giai đoạn. Số liệu cụ thể bạn nên tìm ở báo cáo chính thức của cơ quan tài chính.
Câu hỏi đáng mang theo không phải là nợ nhiều hay ít, mà là: tiền vay đó đang xây thứ gì, và thứ đó có giúp con cháu mình trả nổi nợ dễ hơn không?
Câu hỏi thường gặp
Trái phiếu chính phủ là gì?
Là giấy nợ mà nhà nước phát hành để vay tiền, hứa trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn. Người mua có thể là ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hay cá nhân.
Nợ công gồm những khoản gì?
Thường gồm nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Phạm vi cụ thể do pháp luật mỗi nước quy định, nên khi so sánh giữa các nước cần chú ý cách tính.
Nhà nước có thể in tiền trả nợ không?
Với nợ bằng nội tệ, về kỹ thuật là có thể, nhưng in tiền để trả nợ dễ dẫn tới lạm phát cao và mất lòng tin vào đồng tiền. Với nợ bằng ngoại tệ thì không thể.
Vỡ nợ quốc gia là gì?
Là khi nhà nước không trả được lãi hoặc gốc đúng hạn và phải đàm phán lại với chủ nợ. Hậu quả thường là chi phí vay tăng mạnh, đồng tiền mất giá và kinh tế suy giảm.
Người dân có bị ảnh hưởng bởi nợ công không?
Có, qua thuế phải đóng để trả nợ, qua phần ngân sách bị dành cho trả lãi thay vì dịch vụ công, và qua rủi ro khủng hoảng nếu nợ mất kiểm soát. Nhưng nợ dùng đúng chỗ cũng tạo ra hạ tầng người dân được hưởng.